BẢN TANGO VỚI CHÚA
- Chủ nhật - 07/06/2026 04:15
- In ra
- Đóng cửa sổ này
BẢN TANGO VỚI CHÚA
Trường ca của Lê Đình Bảng
Bùi Công Thuấn
Chúa là cội nguồn sáng tạo trong thơ Lê Đình Bảng. Bạn đọc có thể gặp nhà thơ thưa chuyện với Chúa trong nhiều tác phẩm cuả ông. Dù vậy, Bản Tango với Chúa là một hội tụ tâm tình của Lê Đình Bảng với Chúa. Nhà thơ trực tiếp nói chuyện với Chúa như một nhân vật đời thực, qua đó bộc lộ đức tin của mình. Đây là một trường ca tự tình về đời sống tâm linh, về trải nghiệm đức tin của một Kitô hữu; và đặc biệt là, sự hé lộ những mối quan hệ sáng tạo giữa nhà thơ và nhân vật đức tin. Đức Giêsu là một con người trần gian, con người lịch sử, sống trong một bối cảnh chính trị xã hội cụ thể, nhưng Đức Giêsu cũng là Thiên Chúa. Trong thơ Lê Đình Bảng, hai bản thể này là một. Nhưng khi thể hiện, thơ Lê Đình Bảng có những khám phá khác biệt.
1.Cấu trúc của trường ca
Trường ca Bản Tango với Chúa có 49 khổ thơ, kiểu thơ 7 chữ. 49 khổ thơ gổm: 6 khổ 4 câu. 16 khổ 6 câu. 24 khổ 8 câu. Và 02 khổ 10 câu.
Về thể thơ, Bản Tango với Chúa kết hợp thơ Thất ngôn Đường luật với thơ 7 chữ của thơ lãng mạn 1930-1945. Bạn đọc thơ quen có thể nhận ra đâu là Đường luật (với thi luật chặt chẽ) và đâu là thơ 7 chữ lãng mạn (thi luật phóng khoáng hơn). Sự phối hợp này tạo ra hai sắc thái thẩm mỹ: vẻ đẹp cổ kính của Đường luật và vẻ đẹp hiện đại của thơ lãng mạn.
Câu đầu tiên của mỗi khổ thơ là Câu chủ đề. Câu thơ này mang phẩm chất lý trí cùa suy tưởng nghị luận. Những câu còn lại trong đoạn, triển khai chủ đề bằng những tứ thơ và những liên tưởng, những lý giải, biện luận.
Xin đọc một khổ thơ:
Chúa vẫn yêu thương con quá chừng
Thì ra, là lòng Chúa bao dung
Từ trong mạch suối nương long ấy
Vẫn rỉ ra giọt máu cuối cùng
Chúa khát, hai nghìn năm, vẫn khát
Khăn nào lau mắt lệ rưng rưng
(Khổ 5)
Câu chủ đề: “Chúa vẫn yêu thương con quá chừng” là một diễn ngôn trực tiếp bằng
ngôn ngữ đơn nghĩa, không có hình ảnh, không có tu từ, không phải là một “tứ” thơ mà là một luận điểm. “Quá chừng” là một khẩu ngữ diễn tả tình cảm. Câu thơ thứ 2: từ khởi đầu là : “Thì ra, là”, là một từ ngữ dùng để giải thích. Hình ảnh “Mạch nương long”“vẫn rỉ máu ở câu 3 và 4 là dẫn chứng cụ thể, làm luận cứ cho chủ đề. Người đọc sẽ liên tưởng ra hình ảnh đức Giêsu bị treo trên Thánh giá: “một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra…”(Ga 19, 31-37). Hai câu cuối khổ thơ là một hành động yêu thương khác của Đức Giêsu được tác giả suy tưởng: “Chúa khát, hai nghìn năm, vẫn khát/ Khăn nào lau mắt lệ rưng rưng”. Kinh thánh tường thuật rằng: trên thánh giá, Đức Giêsu kêu lên: “Ta khát”(Ga 19, 28) sau đó Người gục đầu xuống và trao Thần khí. Việc Đức Giêsu kêu “Ta khát” đã 2000 năm, nhưng nhà thơ suy tưởng rằng, suốt 2000 năm qua, sau khi đức Giêsu đã sống lại, Chúa vẫn “khát”. Trong thảm trạng đó của Chúa trước nhân loại, nhà thơ đã khóc thương Chúa khôn vơi, không có khăn nào lau khô được dòng nước mắt rưng rưng.
Cấu trúc khổ thơ trên là kiểu tư duy nghị luận: nêu chủ đề, giải thích chủ đề, đưa dẫn chứng làm sáng tỏ chủ đề, từ đó suy tưởng và bộc lộ cảm nhận riêng của tác giả. Tại sao nhà thơ lại dùng kiểu tư duy nghị luận trong thơ trữ tình? Câu trả lời là: cấu trúc nghị luận là để thuyết phục người đọc người nghe bằng nhận thức lý trí. Làm sao để nói về “Lòng thương xót của Chúa”? Nhà thơ đưa hai dẫn chứng: Đức Giêsu bị lính dùng giáo đâm thủng sườn, cho đến nay, sau 2000 năm, máu vẫn chảy; và, trước lúc tắt thở, Đức Giêsu kêu lên “Ta Khát”(khao khát cứu rỗi nhân loại, nhưng nhân loại lại vô tình).
Cả trường ca 49 khổ thơ có thể coi là một tùy bút-nghị luận (vừa cấu trúc nghị luận-trữ tình vừa liên tưởng, phóng bút theo cảm hứng). Tác giả đối thoại, “tình tang” (mè nheo) với Chúa. Câu chủ đề đứng đầu mỗi khổ thơ tạo nên nội dung chính của trường ca là:
(Ghi chú: số đứng trước mỗi dòng là số thứ tự của khổ thơ do tác giả trường ca đặt. Tác giả bài viết này in đậm một số chữ để lưu ý bạn đọc về những nội dung khác nhau trong cấu tứ của trường ca. Chữ in nghiêng là nguyên văn của văn bản trường ca)
1. Chúa vẫn yêu con như thế sao
2. Chúa vẫn yêu con, vẫn đoái hoài
3. Chúa biết con, rau rợ, tập tàng
4. Chúa vẫn yêu con, như trước đây
5. Chúa vẫn yêu thương con quá chừng/ Thì ra, là lòng Chúa bao dung
6. Chúa vẫn yêu con, như thuở nào/ Cái thời, hay mộng mị, chiêm bao
7. Chúa vẫn yêu con, như thuở xưa/ Những hôm, nắng quái hay trời mưa
8. Chúa vẫn yêu con, không bến bờ/ Mà con thì vớ vỉn, lơ mơ
9. Chúa để dành cho con rất nhiều
10. Chúa vẫn yêu con như thế sao
11. Chúa biết con là trên trộm dữ
12… Lạy Chúa, con là tên trộm dữ/ Và dây leo, gai góc, bờ rào
13. Chúa biết con đây, chẳng có gì/ Ba gang, mười hai túi làm chi
14. Chúa biết con trong nhóm mã tà/ Cùng phường thảo khấu với Judas
15. Chúa biết con đi, chẳng trở về
16. Chúa biết con một thuở, một thời
17. Đã thấy chim đi, nắng rộn ràng/ Ơi, người viễn khách có mang mang.
18. Chúa biết con, mê đắm, điệu đàng
19. Con vẫn tình tang với Chúa đây/ Trèo lên cây vả để xem Thầy
20. Chúa đợi con bên kia Biển Hồ
21. Lạy Chúa, đừng chê con khó nghèo/ Cùng phường thu thuế Matheo
22. Chúa đã ban cho con quá trời/ No đầy, chẳng còn chỗ nào vơi
23. Chúa hiến thân, sống trọn kiếp người
24. Sao ngã đi, ngã lại mấy lần
25. Cám dỗ, trời ơi, rất ngọt ngào
26. Khi chết, hình như, mình nặng thêm…/
Về lại hành tinh xa tít ấy/ Cầu trời cho nước lớn, thuyền lên
27. Thôi, cứ để mình theo gió đưa
28. Lạy Chúa, đừng bỏ con, tội nghiệp
29. Đôi mắt bỗng trầm tư, Chúa ôi/… Làm sao con uống cạn đơn côi
30. Rót xuống giùm con, một giọt thôi
31. Lạy Chúa, đời con đã đủ rồi/ Thôi, về non, đập đá, nung vôi
32. Lạy Chúa, đời con đã đủ rồi/ Bao nhiêu là mặn nhạt, đầy vơi
33. Lạy Chúa, giờ, con đã mệt rồi/ Sống, mà như thể sống cầm hơi
34. Chúa đợi chờ con đến lúc nào/ … Chúa bảo, giờ ta như kẻ trộm
35. Con biết mình heo may, yếu mềm
36. Chúa biết con, nhiều khi dối lòng
37. Sao Chúa hiện ra trong bụi gai/ Mà con thì đứng tít bên ngoài
38. Chúa hiểu, linh hồn con khát khao/ khô, hồ cạn, đợi mưa rào
39. Con trải lòng ra với mọi người
40. Lạy Chúa, đừng bỏ con rớt rơi
41. Mãi mãi, đời con luôn sẵn sàng/ Một dòng thôi, đò dọc, đò ngang
42. Hay về yên nghỉ cùng tro bụi/ Mấy triệu năm rồi, ta héo hon
43. Quanh quất, tìm đâu, một bến bở/ Những là, cỏ dại với lau thưa
44. Chúa bảo con, trèo lên núi cao/ Ở nơi thanh tĩnh và tiêu dao
45. Con mở lòng ra, ra bốn phương/… Là nghe Chúa nói thầm đâu đấy
46. Ơn Chúa cho rất ngọt, rất lành/ Giữa đắng cay, ngọt bùi, trộn lẫn/ Có hân hoan, mừng rỡ
47. Con vẫn không ngừng nghỉ kiếm tìm/ Dẫu trần thân, đáy bể mò kim
48. Sau những suy vong và trụ diệt/ Hỏi dòng sông ấy chảy về đâu
49. Con biết tìm đâu, đâu lạy Chúa/Tan đàn, xẻ nghé, biết về đâu.
Nhìn vào các câu chủ đề, người đọc có thể nhận ra tác giả trò chuyện với Chúa và bày tỏ
suy nghĩ riêng của “Con” (Ta) với Chúa. Tính chất “tự tình” này giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn về con người tâm linh, con người đức tin của Lê Đình Bảng qua thơ của ông; và đó cũng là cốt lõi tư tưởng thơ của ông. Cấu trú Nghị luận giúp người đọc dễ nắm được nội dung trường ca.
Trường ca có hai nhân vật: Chúa và Con.
2. Nhân vật Chúa
Trong trường ca này, Chúa được nhận thức là đấng toàn năng, Chúa quan phòng mọi sự, là nhân vật đức tin của nhà thơ.
Nhà thơ nói với Chúa: “Chúa vẫn yêu con” (8 khổ thơ), “Chúa biết con”(10 khổ thơ), Chúa chờ đợi con (khổ 20), Chúa ban cho con (khổ 22), Ơn Chúa dư đầy (khổ 46), Chúa hiến thân (khổ 23), Chúa hiện ra (khổ 37). Trong những diễn ngôn ấy, “nhân vật Chúa” là một “thuật ngữ” Thần học (xin đọc Tổng luận Thần học của thánh Thomas Aquinas-Summa Theologiae). Chúa là nhân vật của đức tin Công giáo. Người Công giáo mặc định đức tin của mình theo Kinh thánh đã được Giáo hội Roma dạy (Kinh Tin Kính). Chẳng hạn, Thiên Chúa là Đấng sáng tạo mọi sự (Sách Sáng Thế), “Thiên Chúa quan phòng”mọi sự, xin đọc Tân Ước (Mt 6, 25-34), Thiên Chúa là Cha nhân hậu (Lc 15, 1-3.11-32)…
Vì thế “nhân vật Chúa” trong trường ca “Bản Tango với Chúa”, trước hết là Thiên Chúa, một nhân vật “ý niệm”, được nhận biết bằng đức tin. Trí khôn loài người (khoa học) không thể suy biết được.
Trong trường ca Bản Tango với Chúa, Chúa là nhân vật rất mơ hồ (không được miêu tả cụ thề), được “mặc định” bởi đức tin, rằng: đức Giêsu cũng là Thiên Chúa. Cho nên khi người Công giáo kêu lên “Lạy Chúa!”, thì lời cầu ấy hàm nghĩa cả hai, Thiên Chúa, cũng là Chúa Giê su. Người ngoài Kitô giáo, không có đức tin, sẽ thật khó hiểu câu thơ nào tác giả nói về Thiên Chúa, và hình ảnh nào là hình ảnh đức Giêsu?
Chúa vẫn yêu con, như thuở xưa
Những hôm, nắng quái hay trời mưa
Có khi, ngồi bỗng vu vơ, nhớ
Những bóng hình xưa xa, dật dờ
Những muốn, mình vươn vai chóng lớn
Sớm chiều, ai đón và ai đưa
(Khổ thơ 7)
Khổ thơ nói về mối quan hệ của Chúa với con, nhưng Chúa trong khổ thơ này là Thiên
Chúa hay là đức Giêsu?
Câu chủ đề đoạn thơ chuyên chở ý nghĩa cho cả đoạn. 5 câu thơ còn lại, có lời, có nhạc, có hình ảnh nhưng không chuyển tải thông tin (ngôn ngữ rỗng), không có chức năng giải thích cho chủ đề, thành ra, người đọc không thể hình dung ra nhân vật “Chúa” như thế nào. Khổ thơ có màu sắc tài hoa (tài dùng từ, dùng hình ảnh) song không chuyên chở tư tưởng, cũng không có bóng dáng hiện thực. Nôm na, nghĩa đoạn thơ diễn thành văn xuôi là như thế này: thuở xưa, “con” ngồi nhớ vu vơ những bóng hình dật dờ, dù là trời nắng quái hay mưa. “Con” mong mình chóng lớn và có người đón đưa! Cái ngày xưa ấy con đã được Chúa yêu như Chúa yêu con bây giờ.
Người kể không miêu tả không gian, không ghi nhận năm tháng nào trong đời, không xác lập bối bối cảnh xã hội “thuở xưa” của tác giả. Đó là thời chiến tranh Việt Nam, thời khó khăn sau 1975, hay thời tác giả định cư ở nước ngoài? Nhân vật “Con” cũng không có chân dung, không có quan hệ gia đình, làng xóm… Vì thế thơ không bám vào hiện thực để thể hiện tư tưởng. Cả khổ thơ chỉ có một ý chủ đề: …đến hôm nay, “Chúa vẫn yêu con như thuở xưa”.
Vì nhân vật “Chúa” mơ hồ như vậy nên nhà thơ đứng cách rất xa Chúa.
Sao Chúa hiện ra trong bụi gai
Mà con thì đứng tít bên ngoài
Chỉ trông lửa cháy lên nghi ngút
Và sấm sét rền vang, điếc tai
Chúa của bên kia bờ Cựu Ước
(khổ 37)
Vâng, Cựu Ước là lịch sử (có chất “Thần thoại”) của dân tộc Israel: từ thuở tạo dựng, đến thời các tổ phụ (Abraham, Isaac, Jacob), cuộc xuất hành khỏi Ai Cập dưới sự lãnh đạo của Môi-se, thời kỳ chiếm Đất Hứa (Giô-suê), các Thủ lãnh, thời Vương quốc thống nhất (Đa-vít, Sa-lô-môn), chia đôi vương quốc, lưu đày Babylon và thời kỳ hậu lưu đày (Ba Tư) [Wiki]. Chúa là Thiên Chúa của dân Israel, chỉ các Tổ phụ như Abraham, Isaac và Jacob mới tiếp cận trực tiếp với Thiên Chúa. Ở Việt Nam có truyền thuyết “Con rồng cháu tiên”, cùng một thời điểm lịch sử với lịch sử dân Israel.
Một “Thiên Chúa ý niệm”, Thiên Chúa “Thần thoại” như thế thì nhà thơ mãi kiếm tìm.
Sau những suy vong và trụ diệt
Hỏi dòng sông ấy chảy về đâu
Hỏi dòng sông ấy ra muôn ngả
Hỏi sóng to, sóng nhỏ, bạc đầu
Có chở hết trầm luân, nghiệp chướng
Hay còn nặng nợ với thương đau
(khổ 48)
Con biết tìm đâu, đâu lạy Chúa
Tan đàn, xẻ nghé, biết về đâu
(2 câu kết-khổ 49)
Trái lại, những tứ thơ về Đức Giêsu, thì sinh động, cụ thể hơn. Lê Đình Bảng tường
thuật lại Tân Ước, và dùng hình ảnh Tân Ước làm tứ thơ diễn tả suy nghĩ riêng của mình. Hồn thơ trở nên tinh khôi và sống động, rất giàu chất nhân văn
(Khổ thơ 19)
Chúa đợi con bên kia Biển Hồ
Mỗi đầu ngày, sáng sớm, tinh mơ
Mỗi trưa, giữa ngọ, ban chiều nữa
Và mỗi đêm về, trong giấc mơ…
(Khổ thơ 20)
Khổ thơ 19, nhà thơ nói chuyện “tình tang” với Chúa: mời Thầy ghé nhà dùng cơm, nhưng hôm nay thứ Sáu, Thầy ăn bữa chay. Nhà thơ kể lể dí dỏm, vui đùa. Con định trèo lên cây vả để xem Thầy, vì con thấp bé, vì đường hẹp, đường đông, con không chen được. Lê Đình Bảng mượn hình ảnh ông Gia Kêu đón đức Giêsu đến nhà (Lc 19, 1-10): “vì người ta đông quá, mà ông lại thấp bé. Vậy ông chạy lên trước, trèo lên một cây sung để nhìn xem Người, vì Người sắp đi ngang qua đó…”. Đức Giêsu bảo ông ấy rằng: “Hôm nay nhà này được ơn cứu độ, bởi người này cũng là con cái Abraham. Vì chưng Con Người đến tìm kiếm và cứu chữa điều gì đã hư mất”(Lc 19, 9-10). Nhà thơ không giàu có như Gia kêu, nên chỉ mời Chúa dùng cơm chay! (Nói đùa thôi mà!).
Khổ thơ 20, nhà thơ nhắc đến những lần đức Giêsu đứng đợi các môn đệ ở bên kia Biển Hồ (hồ Tibériade) trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Chúa mời gọi các môn đệ đầu tiên là Simon, Anrê, Giacôbê và Gioan khi họ đang ở bờ hồ (Mt 4, 18-22). Lần khác, đức Giêsu cho các môn đệ qua bên kia hồ để Ngài lui về cầu nguyện. Khi màn đêm buông xuống, con thuyền bị sóng và gió xô giạt. Khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ (Mt 14, 22-33); một lần khác, đức Giêsu đứng bên bờ hồ (Lc 5, 1-11), Ngài nhờ Simon chèo thuyền ra xa bờ một chút rồi Người ngồi để giảng cho đám đông. Giảng xong, Người bảo Simon chèo ra chỗ nước sâu thả lưới. Simon làm theo lời Chúa. Họ bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới. Họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người. Ý nghĩa của những lần đức Giêsu đứng ở bên bờ hồ và dạy bảo các môn đệ được Lê Đình Bảng tích hợp trong khổ thơ. Nhà thơ được Chúa gọi như Simon xưa, được Chúa che chở như khi các môn đệ trên thuyền gặp giông bão, được Chúa cảm hóa để rồi nhà thơ buông bỏ để đi theo Ngài.
Nhân vật Chúa là đức Giêsu trong những hoàn cảnh cụ thể được trình thuật trong Tân Ước, vì thế nhà thơ hóa thân vào các môn để Chúa để trò chuyện rất thân tình và tự nhiên với Ngài.
Chúa đã ban cho con quá trời
No đầy, chẳng còn chỗ nào vơi
Con xin một, Chúa cho muôn một
Hứng cả hai bàn tay, đã đời
Chúa bảo, khi treo lên thánh giá
Hỏi con, còn đử sức, còn hơi
Để kêu một tiếng thôi, ta khát
Ôi, được làm Con Đức Chúa Trời
(Khổ thơ 22)
3. Nhân vật “Con”
“Con” là đại từ nhân xưng nhà thơ dùng khi nói chuyện với Chúa. Đây là nhân vật trữ tình trong tác phẩm (cũng là tác giả tự tình). Con nói chuyện với Chúa thực ra là tự bộc bạch, “…trải lòng ra với mọi người”(khổ thơ 39), “Con mở lòng ra, ra bốn phương”(45); tự “xét mình”, tự nhìn lại cuộc đời từ lúc còn thơ đến khi “Nhỡ mai, trăm tuổi, mồ xanh cỏ”(khổ thơ 49).
Nói cách khác, trường ca Bản Tango với Chúa là một “tiểu sử” tự bạch của tác giả về những nghĩ suy tâm linh, về đức tin, trong tương quan với con đường số mệnh nhà thơ đã đi qua. Bây giờ đang ở trạm cuối cùng của cuộc đời, chờ ngày về với Chúa, nhà thơ nhìn lại đời mình và nhìn về phía trước (tôi không dùng chữ “tương lai”).
Nhà thơ, có lúc rất thành tín, lại có lúc vui đùa hồn nhiên trẻ thơ và nhiều khi trầm tư vô vọng, nặng trĩu như hòn đá trơ trên đỉnh non ngàn. Lời tự bạch có khi là lời Ca dao mộc mạc gần gũi, có khi trang trọng như văn chương bác học trong cổ thi, và có khi là lời của những phận người “dưới đáy”(chữ của M. Gorky) xã hội.
Trước hết, “Con” nhận biết “Chúa yêu thương con”, “Chúa đã hiến thân” làm người, nhận chịu đau khổ để cứu rỗi nhân loại. Chúa đã ban cho Con đủ đầy ơn Chúa, Con bé nhỏ như hạt bụi và yếu đuối. Con cũng chẳng có gì. Vậy mà con lại phản bội Chúa như Judas. Con cầu xin Chúa đừng bỏ Con. Con cám ơn Chúa, nhưng “. Bao nhiêu lời cảm ơn cho đủ”.
Những nghĩ suy bộc bạch như thế là nhận thức Thần học mà mọi Kitô hữu đều được Giáo hội dạy. Người theo đạo coi đó là đức tin của mình. Khám phá đức tin của nhà thơ là ở những trải nghiệm, và ở thái độ diễn ngôn. (ghi chú: số đứng sau câu thơ là số thứ tự khổ thơ).
Chúa vẫn yêu thương con quá chừng (5)
Chúa biết con đây, chẳng có gì (13)
Chúa biết con trong nhóm mã tà
Cùng phường thảo khấu với Judas (14)
Chúa biết con, mê đắm,điệu đàng
Nửa đời, nửa đoạn cứ lang thang (18)
Chúa biết con, nhiều khi dối lòng (36)
Chúa đã ban cho con quá trời
No đầy, chẳng còn chỗ nào vơi (22)
Chúa hiến thân, sống trọn kiếp người (23)
Lạy Chúa, đừng bỏ con, tội nghiệp (28)
Lạy Chúa, đừng bỏ con rớt rơi (40)
Bao nhiêu lời cảm ơn cho đủ
Ơn Chúa cho rất ngọt, rất lành (46)
Phần đời riêng của nhà thơ được thuật lại bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh gây ấn tượng. Đó là đời nghèo, phiêu bạt, một phận nhỏ li ti, một thân dây leo bờ rào, một nhân thân “chẳng ra gì” trong xã hội, dù có “ăn nhờ ở đậu” thì cũng chỉ là tạm bợ. Cứ mãi chờ mong, kiềm tìm, “Hỏi dòng sông ấy chảy về đâu”(48), mong ngày “bình yên nhắm mắt lìa đời”(33)
Chúa vẫn yêu con, như thuở nào
Cái thời, hay mộng mị, chiêm bao
Buồn, vui, sầu luỵ và hay khóc (6)
Lạy Chúa, con là tên trộm dữ
Và dây leo, gai góc, bờ rào
Là loài cây dại, không hoa trái (12)
Chúa biết con, mê đắm, điệu đàng
Nửa đời, nửa đoạn cứ lang thang (18)
Lạy Chúa, đừng chê con khó nghèo
Cùng phường thu thuế Matheo
Ngồi trơ thân giữa nơi phường phố
Của đám người, hoa trôi, bọt bèo
Sống đấy, mà coi như đã chết (21)
Sao ngã đi, ngã lại mấy lần
Không còn nước mắt để ăn năn (24)
Thôi, cứ để mình theo gió đưa
Kéo cưa lừa xẻ, ăn cơm vua
Cái thân đồng nát ve chai ấy
Vạ vật, lang thang ở cổng chùa (27)
Con biết mình heo may, yếu mềm
Mỏng như tơ, chậm chạp như sên
Ăn nhờ, ở đậu thôi, quanh quéo
Có khá hơn, nhưng chẳng bõ bèn (35)
Đã mấy mùa tha hương, viễn xứ
Bao nhiêu là chồng chất, đa mang
Khi ngồi trên đống tro tàn, khóc
Cơ nghiệp, đành thôi, phải bỏ ngang (41)
43. Quanh quất, tìm đâu, một bến bở
Những là, cỏ dại với lau thưa
Chờ xem, nước có lên, về kịp
Hò hẹn ở bên kia Biển Hồ
Lạy Chúa, giờ, con đã mệt rồi
Sống, mà như thể sống cầm hơi
Qua ngày, qua buổi, mong chi nữa
Giọt nước, hạt cơm ai vãi rơi
Hỏi đến bao giờ, ngày tận thế
Để bình yên, nhắm mắt, lìa đời (33)
Trong khi nhìn lại đời mình, Lê Đình Bảng không đặt suy tư trên hệ triết học phương
đông hay phương tây. Ở phương đông, Phật dạy “Đời là bể khổ”. Nguyên nhân của “Khổ đế” là lòng dục. Phương tây nhìn hiện sinh là “Hiện sinh quy tử”-Being toward death (M. Heidegger -1889-1976). Lê Đình Bảng không lý giải tại sao phận mình lại nhỏ li ti như dây leo bờ bụi, lại tha phương giữa “đám người, hoa trôi, bọt bèo/ Sống đấy, mà coi như đã chết” (21). Nhà thơ chỉ kể lại cái thực tại đời mình cùng những nghĩ suy về thân phận mình, cả những nỗi niềm, những tậm trạng thật của một con người (Lạy Chúa, giờ con đã mệt rồi/ Sống, mà như thể sống cầm hơi), trong tương quan với Chúa và cầu xin được bình yên nhắm mắt lìa đời. Không cầu xin Chúa thứ tha và cho mình về Thiên đàng như tên trộm lành (Lc 23, 43). Tôi nghĩ, đó là một thái độ hiện sinh vượt lên thân phận.
Có lúc, nhân vật “Con” vượt thoát ra ngoài cái thân phận “ngồi khuất trong cô tịch” của “huyệt mộ” (29), mà cất mình lên, chuyển hóa thành Cái Ta trong cái vô cùng của Đại ngã (tư tưởng của Upanishad).
17. Đã thấy chim đi, nắng rộn ràng
Ơi, người viễn khách có mang mang
Nằm nghe cỏ biếc thơm ngày mới
Đứng gọi chiều xanh ngát tuổi vàng
Vẫn một vòng hương bay tóc rối
Đâu nghìn con nước ngó Xuân sang
Say sưa ta cũng lưng hồ rượu
Ruổi ngựa hồng qua bước vội vàng
42. Người trẩy về phương xa, thượng nguồn
Emmaus hề, xóm lạ, đường trơn
Một làng nhỏ tắp, như con kiến
Xanh lục tràng giang, xanh núi non
Từ buổi chim đi bờ bãi ấy
Mỗi chiều, ra ngóng những hoàng hôn
Hay về yên nghỉ cùng tro bụi
Mấy triệu năm rồi, ta héo hon
26. Khi chết, hình như, mình nặng thêm
Mình như người nằm mộng, nghe kèn
Ngày mai, buông súng, ta về nhé
Sa ngã nào, cũng tại ta yếu mềm
Ngày mai, mai mốt, ai cầm chắc
Có sống trăm năm, chẳng bõ bèn
Về lại hành tinh xa tít ấy
Cầu trời cho nước lớn, thuyền lên
Ngưởi đọc sẽ ngạc nhiên vì trong hai khổ thơ trên, không có bóng dáng nhân vật Chúa, cũng không có nhân vật xưng Con. Nhân vật trữ tình bây giờ là “Ta/ Mình/ người viễn khách” giang hồ vượt ra ngoài vũ trụ quan, nhân sinh quan Kitô giáo.. Không gian bây giờ là “ngày mới thơm cỏ biếc, có nắng rộn ràng, nghìn con nước mang mang, Ta “lưng hồ rượu, ruổi ngựa hồng”, “Cuộc sống trăm năm chẳng bõ bèn”. Bởi vì: “Mấy triệu năm rồi, ta héo hon”. Ta “Về lại hành tinh xa tít ấy”, (không rõ ở đâu) bằng con thuyền vượt lên trên nước lớn (“Cầu trời cho nước lớn, thuyền lên”). Cảnh được gợi ra như là một thế giới viễn tưởng, đầy lãng mạn, người thơ đã vượt qua tử sinh, hoàn toàn tự do trong không gian thời gian cao rộng (“Có sống trăm năm, chẳng bõ bèn”; “Khi chết… Mình như người nằm mộng”…).
Thực ra, những lãng mạn tư tưởng như trên chỉ là những phú “ngẫu hứng” thi nhân của Lê Đình Bảng trong Bản Tango với Chúa. Điều làm quặn lòng người đọc bây giờ là nỗi cô đơn, nỗi đợi chờ cái chết trong tâm thức nhà thơ, như kết thúc một kiếp người trong cõi nhân gian. Dù vậy, cả trường ca Bản Tango với Chúa là niềm cậy trông vô bờ của nhà thơ vào Chúa.
32. Lạy Chúa, đời con đã đủ rồi
Bao nhiêu là mặn nhạt, đầy vơi
Con không mơ ước gì hơn nữa
Đã tận cùng bằng số đấy thôi
Đã lặn chìm sâu nơi đáy nước
Cố ngoi lên, gối sóng mà bơi
33. Lạy Chúa, giờ, con đã mệt rồi
Sống, mà như thể sống cầm hơi
Qua ngày, qua buổi, mong chi nữa
Giọt nước, hạt cơm ai vãi rơi
Hỏi đến bao giờ, ngày tận thế
Để bình yên, nhắm mắt, lìa đời
Lời bạt
Tôi thích đoạn thơ Lê Đình Bảng mời đức Giêsu vào nhà mình dùng cơm chay (vì hôm nay thứ Sáu, theo thói quen của Giáo hội, giáo dân ăn chay, kiêng thịt thứ Sáu. Nhà thơ nói đùa thôi mà!)
19.Con vẫn tình tang với Chúa đây
Trèo lên cây vả để xem Thầy
Bởi con thấp bé nhẹ cân lắm
Đường hẹp, người đông, chen chúc đầy
Chẳng lẽ lên mái nhà, giỡ ngói
Người ta lại bảo, mình đu dây
Hôm nay, Thầy ghé nhà con vậy
Thứ Sáu, xin mời ăn bữa chay
Đoạn thơ hiện ra điều này: cuộc sống có Chúa sôi nổi vô cùng, tràn đầy sự sống và hy vọng; tràn đầy niềm vui. Hình ảnh Chúa gần gũi, thân thiện. Ngài ở giữa đám đông, rất bình an và chân chất. Không gian thơ tràn đầy niềm vui Kinh thánh, ngôn ngữ thơ lại rất hiện đại, ngầm chứa chất hài Việt hiền lành (“Bởi con thấp bé nhẹ cân lắm”; “Người ta lại bảo, mình đu dây”. Từ vựng đương đại có chữ “đu trend”, nghĩa là chạy theo phong trào, theo xu hướng). Đoạn thơ ghi lại chân thực tường thuật của Kinh thánh, cảnh ông Gia kêu mời Chúa đến nhà (Lc 19, 1-10), cảnh người ta lên mái nhà, dỡ ngói ra, thả người bệnh cùng với cái giường xuống ngay chính giữa, trước mặt Đức Giê-su, xin Ngài chữa lành cho bệnh nhân (Lc, 5, 17-26); nhưng cũng đồng thơ mở ra thế giới tâm hồn nhà thơ hân hoan khi mời Chúa đến nhà mình dùng cơm chay.
Có lẽ đây là đoạn thơ khắc họa được, rất riêng, mối quan hệ của nhà thơ (hôm nay) với Đức Giêsu (cách nay hơn 2000 năm). Chúa đến, như Ngài đang ở giữa chúng ta hôm nay, Ngài mang đến niềm hân hoan của sự thứ tha (Lc 5, 20), ơn chữa lành (Lc 5, 24) và sự Cứu rỗi (Lc 19, 9).
Ước gì, mỗi tín hữu Kitô giáo đều mời được đức Giêsu đến nhà dùng cơm chay như nhà thơ. Bởi sự hiện diện gần gũi, thân tình của đức Giêsụ cũng là sự đổ tràn ơn tha thứ, ơn chữa lành và Ơn Cứu Độ của Chúa cho chúng ta, bất kể chúng ta là kẻ tội lỗi hay kẻ thấp bé kém cỏi (như Gia Kêu bị coi là kẻ tội lỗi- Lc 19, 7).