MỘT BUỔI KINH TỐI TRONG GIA ĐÌNH
●Francis Assisi Lê Đình Bảng
KINH VÀ CẦU NGUYỆN
Bạn biết không? Có những khoảnh khắc trong một ngày, chúng ta bỏ phí, lãng quên đến vô tình? Có những buổi chiều, ban tối trôi qua trong thờ ơ. Có những đêm khuya say mềm, mệt nhọc. Không tích sự gì. Như bao người khác, thời gian qua đi, như một thói quen. Có biết đâu, phút giây ấy, Chúa vẫn thức, vẫn ghé tai nghiêng mình về phía ta. Để nghe ngóng xem chúng ta nói gì. Cả một ngày dài Chúa đã bị lãng quên. Tại sao không xum họp lại. Chỉ mươi mười lăm phút phù du thôi, một buổi kinh tối gia đình?
Vẫn biết Phụng vụ và lòng đạo dân gian là những cung cách phụng thờ khác nhau, nhưng không hẳn mâu thuẫn, đối lập. Trái lại, cả hai còn bổ sung, làm phong phú cho nhau. Đó là một điều hết sức bình thường mà tôi muốn nói, chuyện kinh hạt- ngắm nguyện đối với đời sống người tín hữu Việt Nam, trong khung cảnh gia đình, xứ đạo, nhà thờ ở làng quê. Nó bình thường và đều đặn, như đời sống, cơm ăn áo mặc, như cấy cày, chợ búa. Ai trong chúng ta vẫn thường nghe đến quen tai những câu ví von này:
“Kinh nhà đạo
Gạo nhà chùa”
“ Một kinh chung bằng thùng kinh riêng”
“Cơm gạo nuôi phần xác
Kinh hạt nuôi phần hồn”…
“ Hát đâu, chầu đấy”
“ Dâng thành thật, chẳng mất đi đâu”
“ Dâng cho Chúa, như lúa vào bồ”
“Có cha, có lễ”
“ Thờ thì dễ, lễ thì khó”
“ Có Chúa, mọi sự, mọi xong
Không Chúa, mọi sự long đong suốt đời”
“ Lấy công, lấy đức về sau
Chúa cho của cải, sang giàu, ấm no”…
Và ở rải rác, đó đây chỗ này chỗ khác, là những câu, đại loại như: “Hát lâu/chầu mỏi”, “quỳ mài/bái lễ”; “đọc kinh ra rả như quốc kêu mùa Hè”; “kinh với hạt lắt nhắt cả ngày” v.v... Hoá ra, kinh kệ không hơn mớ hỗn độn pha tạp, nhì nhằng, tầm thường, ngồi lê đôi mách của đàn bà, con nít, buôn bán dưa lê... Cái nhìn ấy là cái nhìn rất đỗi “mục hạ” khinh khi, kỳ thị bắc bậc của người được xem là giai cấp có học trông xuống bọn lê dân nghèo khổ.
Vẫn biết thế. Nhưng hình như, tôi trộm nghĩ, được đọc kinh, được nghe kinh - từ xa xưa - đã là một trong những thói quen lành thánh, một cách nguyện cầu, một cách chuyện trò với thiêng liêng, một vinh dự; đồng thời để giải toả vơi bớt nỗi niềm tâm tư riêng lẻ. Có khả năng, sự tồn tại, bền vững và cả sức đề kháng kiên quyết, mãnh liệt nào đó của tổ tiên, cha ông ta là các thánh tử đạo ngày xưa trước những âm mưu cám dỗ, cưỡng ép, đe doạ, cấm cách, bách hại của vua quan phong kiến. Xứ tôi xửa xưa, người được chọn làm dấu thánh giá, xướng kinh, bắt kinh ở nhà thờ, thường phải là ông Trương, ông Trùm, bà Quản có nhân đức, giọng tốt. Cả nhà thờ răm rắp một mực theo cái đà ấy mà trôi đi. Một trong những kỷ niệm đáng ghi nhớ nhất thời thơ ấu của bọn trẻ nhà quê chúng tôi, là được: đọc kinh, khảo kinh và thi kinh. Hội khảo kinh, thi kinh là một sinh hoạt khá đặc biệt, nghiêm túc của các giáo xứ Công giáo Việt Nam. Nó là một thứ hội đồng khảo thí về Giáo Lý, (kinh bổn/ sách phần) thường diễn ra vào tuần Đại phúc - mùa Chay. Cụ thể là những ngày ra Giêng, sau Tết nguyên đán.Người lớn, trẻ con nô nức vào Hội, đặc biệt ở những giáo xứ toàn tòng. Bởi thuộc kinh, vừa được thưởng về vật chất, như gạo thóc, bánh trái, vải vóc… được tặng sách vở, bút mực, tượng ảnh, tràng hạt, áo Đức Bà Carmelo; được nêu tên trên giấy khen (có chữ ký của cha xứ, thầy xứ) là con nhà gia giáo, ngoan đạo. Tôi nhớ rõ ràng quyển sách kinh dày cộm, mép giấy màu đỏ như son,nghe đâu là vật gia bảo truyền đời: Toàn Niên Kinh Nguyện, nhà in Phú Nhai Đường hoặc Mẫu Tâm Văn Đoàn, những năm chiến tranh thế giới lần thứ nhất(1916). Sách bìa bọc vải, màu huyết dụ,có cả mấy bức ảnh Chúa Mẹ ghép sẵn, đánh dấu trang bài cần nhớ. Hằng ngày, tôi thấy nó ngự trên góc bàn thờ Chúa, ngay bên cạnh chân nến. Không ai, trừ thầy tôi, có quyền chạm tay vào.
Sách kinh này thiêng lắm. Thầy tôi bảo, cha đã làm phép. Phải nương ghé, ra sức giữ gìn, như con ngươi trong mắt mình. Bởi thế, chẳng ai bảo ai, đứa nào cũng thuộc lòng trơn như cháo chảy. Cha mẹ thuộc lòng. Con cháu cũng thuộc lòng.Gấp sách lại, khoanh tay đọc liền một mạch, từ trang đầu đến trang cuối, không vấp váp. Đó là chuyện có thật một trăm phần trăm. Có những kinh mà khởi thuỷ từ thời Cha Hieronimo Majorica (1591-1656) mới rao giảng, là quyển sách đầu tiên được lan truyền để vào đạo: Thánh Giáo Hối Tội Kinh, Thánh Giáo Khải Mông, Kinh Dọn Mình Trước Chịu Co- mo- nhong, Kinh Mùa Chay Cả, Bảy Mối Tội Đầu; có kinh ra đời thời giáo sĩ Alexandre de Rhodes (1593-1660) như Phép Giảng Tám Ngày. Lại có kinh Cảm Tạ Niệm Từ của Thầy Giảng Phan-Chi-Cô (1640) là kinh nguyện giỗ, cầu hồn thuần chữ Hán mù mịt, thuộc đấy, nhưng đọc là đọc chứ có hiểu mô tê gì đâu. Chúa ôi, ai còn lạ gì, có một thuở một thời đã xa lắc xa lơ lâu lắm quên rồi. Hình như trong cõi vô thức, nhà thờ ta cứ đề huề cái cảnh:
“Các thầy đọc tiếng La Tinh
Các cô con gái thưa kinh dịu dàng”
Nói thật lòng, tất cả cái vốn liếng chữ nghĩa trong kinh sách truyền khẩu và hàm thụ ấy đã thấm nhập, đã nuôi sống, đã thổi chúng tôi lớn lên, chắp cánh cho chúng tôi bay lên, vào đời, đi qua những bến và bờ, rất vô tư và rất bình an vô sự. Tất thày cả ông bà, cha mẹ chúng tôi cũng thế thôi. Chẳng hiểu sao, một chữ cắn đôi. Vậy mà họ cứ thuộc làu làu, đọc lên vanh vách, đều chằn chặn những câu ca dao, tục ngữ. Như những lối nói ví von. Như hàng trăm, hàng nghìn câu lục bát Truyện Kiều, Mai Đình Mộng Ký, Quan Âm Thị Kính, Lục Vân Tiên, Nhị Thập Tứ Hiếu v.v. Họ còn luyến láy trầm bổng, nhịp điệu thưa mau, đối đăng vần điệu nhấn nhá đàng hoàng, như quan họ, sa mạc, đò đưa, hát dặm, hát ru. Phải chăng, đấy là một lý lẽ không thể giải thích thoả đáng, rằng nhà thờ xứ đạo và am miếu, chùa chiền cứ vang rền nền nảy, cứ nghi ngút khói hương, cứ lung linh hoa đèn, cứ xập xình lễ hội, cờ đèn, kèn trống. Thế mới hiểu vì sao, càng lớn lên, về tuổi xế chiều, bá tánh thập phương, con chiên bổn đạo càng đâm ra quyến luyến nhà thờ nhà thánh, am miếu, chùa chiền? Có ai cưỡng bách đâu? Khối kẻ như say khói, say hương, tối ngày quẩn quanh cúng vái, lễ lạy những nơi chốn thiêng liêng để cầu phước, cầu ơn. Nói thế để xin ai nấy đừng vội kết án, xem thường lòng đạo dân gian. Đấy là cái vốn quý của những người gác cửa quá khứ, chứ chẳng chơi đâu.nKinh đã thành thơ. Là một điều có thật trong đời sống người Công giáo Việt Nam xưa.
Xin chọn kinh Mân Côi làm một ví dụ(*)
Thoạt đầu, kinh Mân Côi chỉ là một bài thánh vịnh về Đức Mẹ. Đến khi du nhập vào dòng chảy của kinh kệ Việt Nam, nó đã biến hoá thành một trường thiên, một trường ca, có bố cục chương hồi, có vần điệu, có cung giọng, có nội dung hàm súc, chuyển tải được ý nghĩa các mầu nhiệm vui, thương, mừng. Đọc lên, ngâm ngợi lên, nghe không đơn điệu, nhàm chán. Phải công nhận các giáo sĩ ngay từ buổi đầu, đã sớm phát hiện ra những căn cốt này: Người mình nói năng ví von như thơ và ngôn ngữ thì giàu âm điệu. Cho nên khi biên soạn kinh kệ, cũng đã vận dụng thi ca, như một bước khởi đầu đầy thuận lợi. “Kinh Mân Côi là một trong những kinh đẹp nhất, được cảm hứng từ trong Thánh Kinh và hướng về việc chiêm niệm các biến cố của ơn cứu độ biểu hiện trong cuộc đời Chúa Ki- tô mà Đức Trinh Nữ Maria đã kết hợp vào chặt chẽ. Hơn nữa, giá trị và hiệu lực của kinh này đã được xác nhận bởi nhiều chứng từ của nhiều vị mục tử và nhiều đấng bậc nổi tiếng thánh thiện. Kinh Mân Côi là kinh nguyện chủ yếu mang tính chiêm niệm, vì việc suy niệm ấy đòi hỏi nhịp điệu phải bình thản và người ta phải bỏ thời gian ra, để đắm mình vào đó. Họ có thể suy gẫm cuộc đời Chúa tốt hơn.”(**)
Xin trích dẫn ra đây, lời dạy của Hội Thánh; đồng thời ghi lại một số kinh đã lưu truyền, đã phổ biến trong hầu hết các cộng đoàn dân Chúa ở Việt Nam, để làm bằng.
… Công đồng Vaticano II gọi gia đình là Hội Thánh thu nhỏ (GH 11). Việc cầu nguyện trong Hội Thánh thu nhỏ này rất quan trọng. Nó giúp ta liên kết với Thiên Chúa và với mọi người trong gia đình với nhau. Nó cũng giúp cho việc cử hành phụng vụ ở nhà thờ được chuẩn bị và tiếp diễn ngay tại gia đình (Tông Huấn về Gia Đình, 61b). Trong Sứ điệp Ngày Truyền Giáo năm 1981, Đức Giáo hoàng Gioan- Phao lô II còn nhấn mạnh tính giáo dục đức tin của giờ kinh gia đình: “Nhờ việc cầu nguyện trong gia đình, trẻ em học được cách nhìn thế giới theo tinh thần Tin Mừng”. Ngài cũng nhắc lại lời của Đức Giáo hoàng Gioan- Phao lô I: “Nhờ việc cầu nguyện trung thành, Hội Thánh thu nhỏ tại gia đình trở thành một thực tại hữu hiệu và làm cho thế giới biến đổi.”
THỬ SẮP XẾP MỘT GIỜ KINH
Mỗi giờ kinh thường gồm các yếu tố:
- Lời Chúa. Trích dẫn từ Tin Mừng trong ngày.
-Lời ca. Nên chọn những bài thánh ca ai cũng thuộc.
-Lời kinh. Soạn một lời kinh ngắn gọn theo Tin Mừng.
- Và thinh lặng. Một phút.
Lời Chúa giữ vai trò quan trọng, vì đó là phương tiện thông thường Chúa dùng để giúp tâm hồn ta được biến đổi. Các lời ca( bài thánh ca) - lời kinh thường đã được viết dựa trên lời Chúa. Tuy nhiên, trong mỗi giờ kinh, ta còn nên đọc ít câu lời Chúa, trích dẫn từ Kinh Thánh để suy niệm. Sự thinh lặng sau đó, để giúp xét mình để lời Chúa thấm vào lòng ta. Nhờ đó, từ đáy lòng, có thể nói lên những lời nguyện tự phát, để ca tụng, ngợi khen Thiên Chúa, để bày tỏ tấm tình thống hối, mến yêu; hoặc để cầu xin cho ta, cho những người ta quen biết, cùng những nhu cầu chung của Hội Thánh.
BÀN THỜ GIA ĐÌNH
Để giúp mọi người nhớ Thiên Chúa hiện diện trong nhà mình, mỗi nhà nên có một bàn thờ nhỏ, trang nghiêm, ở chỗ xứng đáng. Cách chung, bàn thờ trong nhà gồm có:
- một thánh giá Chúa.
- Đức Mẹ.
- quyển Kinh Thánh. Có thể treo 2 tấm liễn lời Chúa, như câu đối.
- bàn thờ Tổ Tiên. Ngay dưới bàn thờ Chúa. Hoặc đặt bàn thờ Tổ Tiên ở vị trí khác.
- bình hoa tươi, hai cây nến.
Không nên bày biện quá nhiều ảnh tượng, hoa đèn.
BẦU KHÍ GIA ĐÌNH
Điều cần thiết, khi cầu nguyện là:
- nhớ Thiên Chúa đang hiện diện. Ta ở đó để nghe Chúa nói và nói với Chúa
- ăn mặc nghiêm chỉnh.
- thu dọc, sắp xếp đồ đạc sạch sẽ, ngăn nắp.
- đứng, ngồi, quỳ, chắp tay.
- thời gian buổi cầu nguyện: 10- 15 phút, không kéo dài.
CẦU NGUYỆN NHƯ THẾ NÀO
- cầu nguyện chung (cả nhà) và cầu nguyện riêngn(mỗi người).
- mỗi sáng, vừa thức giấc: dâng ngày.
- mỗi tối, trước khi ngủ.
-tập thói quen thấy Chúa đang nhìn ta mọi lúc, mọi nơi.
- nên có những giờ phút dành riêng: khi lên giường, sắp ngủ, mở mắt thức dậy, bắt đầu một công việc, kết thúc một công việc…
CÁC KINH THƯỜNG ĐỌC
Tuỳ ngày trong tuần, tuỳ các ngày lễ trọng trong năm, tuỳ theo mùa Phụng vụ, kinh thường đọc sau đây:
- kinh chiều hôm ban sáng: các kinh thường ngày: dấu thánh giá (dấu đơn, dấu kép); kinh sai Thiên Thần, Kinh Nữ Vương thiên đàng; Kinh Tin, Cậy Mến; kinh lạy ơn Đức Chúa Thánh Thần; Kinh ăn năn tội; Kinh Cáo Mình; Kinh Lạy Cha; Kinh Kính Mừng; Kinh Lạy Nữ Vương; Kinh Cám Ơn; Kinh Vực Sâu….
- kinh ngày Chủ nhật và các ngày lễ trọng.
Chú thích:
(*) Văn Côi Thánh Nguyệt Tán Tụng Thi Ca. Của tác giả Phê rô Phạm Trạch Thiện (1818-1903).
( **) Tham khảo: Hướng Dẫn Về Lòng Đạo Đức Bình Dân Và Phụng Vụ.
Uỷ Ban Văn Hoá - Hội Đồng Giám Mục Việt Nam 2003, trang 222.
Tác giả bài viết: Francis Assisi Lê Đình Bảng
Những tin cũ hơn